Tuesday, November 7, 2017

LẬP ĐÔNG

"HOA & TUYẾT" Thuy Doan painting , Sacramento - 2013
*
Hoa và Tuyết

Lạnh ngấm màu hoa trong tuyết,
Sáo vàng xưa vội bay đi.
Ta đứng giữa đường hóng nguyệt,
Cung đàn ai vọng xuân chi !...

Sunday, October 22, 2017

HOA NỞ THÀNH ĐÔNG


HOA NỞ THÀNH ĐÔNG - Tranh ĐOÀN THANH THỦY
(Note: Thành Đông = Thành Thị Nại)

THUY DOAN PAINTING - SACRAMENTO 10/2017

Saturday, October 21, 2017

Nhớ Thành Tây

Nhớ THÀNH TÂY – tranh Đoàn Thanh Thủy 
(Note: THÀNH TÂY = THÀNH BÌNH ĐỊNH)

Thuy Doan Painting - Sacramento - 10/2017

Friday, October 20, 2017

Tiếng Chim Trong Sáng Thu Phong Nhuộm Vàng


"TIẾNG CHIM TRONG SÁNG THU PHONG NHUỘM VÀNG "
Thuy Doan Painting - Sacramento 10/2017
*
Cali nhuốm lạnh , chờ mong...
Tiếng chim trong sáng thu phong nhuộm vàng.
Nhớ xưa, trên chuyền đò ngang,
Chở ta cùng ta với người đang lỡ thời
Mơ màng những chuyện xa khơi...
Bây giờ mỗi đứa một nơi, nghìn trùng!
*
(Tặng bạn trên con đò qua Thị Nại 1989)

Tuesday, October 17, 2017

Thơ Nguyễn Trường Thắng

Anh Nguyễn Trường Thắng by Thuy Doan
*
CHỊ
(M.T. chị N.M.)
 Ngày ấy hai ta cùng chung lớp
Ban Anh văn có bốn nữ sinh
Chị lớn nhất là người xinh nhất
Giọng ngâm thơ chìm đắm sinh linh
Tôi ngồi dưới mải mê nhìn ngắm
Mái tóc dài buông kín bờ vai
Trong một phút vô tình thảng thốt
Tôi đưa chân chạm phải gót hài
*
Chị khoáng đạt  bao dung  lặng lẽ
Tôi ngất ngây trong cõi cuồng si
Bỗng có bạn vô tình nhìn thấy
Chị mỉm cười  chẳng nói năng chi
*
Năm cuối cấp chiến tranh bùng nổ
Mái trường xưa thành trại đóng quân
Tôi và chị mỗi người một ngả
Lòng nghẹn ngào  tê tái  bâng khuâng 
*
Rồi từ ấy  dòng đời trôi nổi
Tôi rời quê mờ mịt xa khơi
Chị lưu lạc phương trời viễn xứ
Ôi bao năm biền biệt tăm hơi
*
Mãi gần đây  tuổi trời sắp cạn
 Tôi hay tin chị ở trời Tây
Chợt sống lại một thời dĩ vãng
Nghe đáy lòng gợn sóng ngây ngây
 * 
5/2009



Sunday, October 15, 2017

CHIÊM BAO

TRĂNG MỜ - tranh Đoàn Thanh Thủy

*
CHIÊM BAO

Cạn cùn sóng mắt mỏi vần thơ
Em đến với ta quá bất ngờ
Tiều tụy thế nhân nhàu nát ý
Hừng hực chiêm bao mỹ mãn mơ


Tuesday, October 10, 2017

Thơ Rau Dấp Cá

Xin giới thiệu Thơ của Người Sĩ Quan Không Quân (Phi Công Trực Thăng) "RAU DẤP CÁ"(10/10/2017)
*
Hình chụp bài "Nhớ Ai" (trang đầu tiên trong tập thơ: "MƯA TRÊN PONCHO")
*
Anh "RAU DẤP CÁ"  và Phu Nhân (Sacramento 10/10/2017)
*
Những hoài niệm về thời trai trẻ: "Trực thăng, Hoa & Thơ"
*
Xin cảm ơn anh chị đã gợi nhớ lại kỷ niệm đẹp những ngày tôi còn dạy ở Gò Găng với các bạn Phi Công Trực Thăng "MÃNH SƯ 3"!

"Anh Sĩ Quan Phi Công Trực Thăng " by Thuy Doan - Sacramento 10/2017

Friday, September 22, 2017

Nguyễn An Đình

Nguyễn An Đình - An Nhơn - Bình Định
*
NẮNG HANH
Gởi hương hồn Lý Xuân Vãng
Bên kia là giòng sông
bên này là ruộng lúa
giòng sông che chở tình yêu
ruộng lúa nuôi sống cuộc đời
vậy mà
ở hai điểm cách kia
chen thêm một khoảng trống
khoảng trống thường rất quạnh quẽ
với cây lá âm u
dấu nắng cháy úa rầu ngọn cỏ
như  buổi chiều nay
nắng hanh vàng rây rây mầu ảm đạm
cuồn cuộn chảy trong da thịt ta
với bao lớp bụi đường
bám cay nước mắt
Có tiếng chim gì kêu rất lạ
quanh quẩn nơi hoang rậm này
chim ơi chim.
Từ đâu chim đã bay về
Tiếng kêu rời rã lê thê bóng tà
có ai nghe không?
và Vãng có nghe không?
có nghe tiếng chim,
cất giọng chào rất nhẹ,
như  đưa Vãng đi – đi mãi không cùng!
Lời chim  - ta nghe chào rằng:
“Giã từ… vạn thuở… đành câm tiếng…
Vĩnh biệt… thiên thu… luống nghẹn lời!” *
Ta biết Vãng đang lắng nghe tiếng chim
tiếng chim kêu hụt ngất
trầm lắng  xót xa
giữa đất trời bao la
lan rộng dần
rồi lặng ngấm
*
Vãng ơi!
Gò Bồi - chiều nay im tiếng gió
nắng  chói hanh nồng
hắt ngược lên từng khuôn mặt
đang long lanh những giọt nước mắt dịu kỳ
phải chăng?
ánh sáng của tình yêu
chứa chan cùng cuộc sống.
Ta nghe lạnh trong tim
tuy mồ hôi tháo đầy da nóng
nhưng làm sao đây?
Vãng ơi!
Khi tiếng chim kêu từng chập khuất mờ
Đường đi qua đó mấy bờ
Từ đây mù mịt hững hờ nước mây
Vãng ơi!
đường mây nước tuy xa
nhưng cuộc sống này đã giáp mặt
nhớ lại ngày nào
chúng ta gặp nhau
chẳng phô bày đài các
bữa canh cá đồng
cũng đủ nghĩa kiêu sa
nhớ lại ngày nào
chúng ta đã ngồi chờ trăng lên ngoài đồng nội
đã thả lòng theo tiếng tơ, tiếng trúc
chúng ta đã cùng nhau thức trắng
suốt đêm dài mưa rả rích thường khuya
Vãng đã buông tiếng đàn trầm thắm thiết
đã giữ hơi ngâm ấm mạch tim người
cùng thơ ta dan díu với hồn quê
nên chúng ta vẫn hằng mong
bờ cỏ mãi xanh xanh
trăng vẫn tròn ngày rằm sáng
và mãi đón gió reo mùa lúa mới trên đồng
Vãng ơi!
đời mộc mạc sau cùng
chúng mình đã vui mừng đón nhận
Thế mà chiều nay
tại sao?
ta nghe lạnh trong tim
đôi chân ta đạp từng bước nặng
thôi!
Vãng ơi!
chiều nay
khi bóng chim ngã hút bên kia
giòng sông Gò Bồi vẫn bình thảng chảy
núi Cách Thử mây vẫn đùn trắng bay
 chỉ còn lại niềm riêng đau – thảng thốt ngậm ngùi
Ngày giã từ - ta mượn lời thơ cổ, xin ghi:
Có ai biết được lòng tri kỷ ?
Vời vợi non cao nguyệt một vừng”**
Bình Định mùa nắng nhiệt đới,
Tháng 3-1984 ÂL
NAĐ
___________*____________
*Thơ của Trung Niên TS
**Thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm


Wednesday, September 20, 2017

HƯƠNG MỘNG

HƯƠNG MỘNG – tranh Đoàn Thanh Thủy(QN-19998)
*
HƯƠNG MỘNG
 Em về trong giấc chiêm bao
Vườn cau quê ngoại đang vào kỳ hoa
Hương thơm – thơm lựng thịt da
Giật mình bên gối trăng nhòa bóng mơ
*
Nhớ tình , nhớ cảnh …vu vơ
Nửa đêm trở giấc lại chờ ngóng ai
Té ra - mấy cánh hoa nhài
Ép trang thơ cũ thơm hoài đến nay


Sunday, September 17, 2017

Lý Xuân Vãng

Lý Xuân Vãng by Đoàn Thanh Thủy ( Tốc họa theo trí nhớ ) QN 2001

Gò Bồi Bên Sông - Thơ Lý Xuân Vãng (Vũ Phương) - Thủ Bút



Tuesday, September 12, 2017

Nguyễn Đình Lương



Nguyễn Đình Lương

TIỄN BẠN VÀO NAM ĐÁNH CÁ
(Tặng anh em bạn chài Khu 2 – Quy Nhơn)
Sóng động chim di xót xa cồn
Buồn vương mặt nước khói hoàng hôn
Gió mùa xúi bạn về phương ấy
Chén rượu tiễn đưa lặng cả hồn
Quy Nhơn 1980
Nguyễn Đình Lương
***
Nguyễn Đình Lương 

Thị trấn Phú Phong – Tây Sơn – Bình Định



KHÓC BẠN

Anh Bốn Lương ơi ! Muộn hết rồi !
Những ngày thơ , nhạc, vẽ…rong chơi,
Nghe anh giờ “muốn quay về núi” (*)
Em ngỡ “Tây Sơn” – anh nghỉ ngơi.

Té ra anh Bốn ra đi thật
Tin buồn đau nghẹn điếng trời cao
Viết bài  đưa tiễn  vào câu nhạc,
Vào sắc mây sầu lạnh buốt trăng sao…

Khi nhớ anh, lòng hẹn …gặp trăng sau…
Giờ quá muộn , anh ơi ! Còn đâu nữa!
Ngày em xa, trời Quy Nhơn nghiêng ngửa
Mưa lũ tơi bời có gặp được anh đâu!

Ở nơi này em đốt nén tâm hương
Cầu Anh Linh siêu thoát cõi Thiên Đường
Từ Tây Sơn thẳng đến Tây Phương
Anh Bốn Lương ơi ! Em vô cùng đau xót, tiếc thương !

California - 10/10/2011
Đoàn Thanh Thủy
-------------------------------------------
(*) tên tập thơ mới xuất bản của anh

https://sites.google.com/site/bachthuy/nguy%E1%BB%85n%C4%91%C3%ACngl%C6%B0%C6%A1ng

Tuesday, September 5, 2017

ĐÊM VU LAN




Trong ánh trăng Thu vàng
Mây gió khuya mơ màng
Kỷ niệm xa xăm về
Nhớ con đường làng ngày xưa
Phải chăng Thu còn vấn vương ai ?
*
Man mác buồn ơi tiếng đàn
Lạc trong mây cánh vạc nào
Mải mê với bóng Hằng
Tiếng chuông chùa bất chợt ngân vang
*
Lời ru êm suốt đêm Thu thời thơ ấu
Trôi qua tháng ngày bay trong phố phường
Dù mưa nắng hay bão bùng
Lâu nay luôn canh cánh bên lòng
Lời ru âu yếm quá: “Thu vàng!”
*
Mùa Thu đến lá khô bay vầng mây tím
Xa xôi cánh buồm in trên ráng chiều
Trời quê trắng mênh mông đồng
Cây cầu nay đã đổi thay nhiều
Dòng sông ơi! Ngăn cách … bao mùa?


Đoàn Thanh Thủy
*


Monday, September 4, 2017

Labor day at Sacramento

Labor day at Sacramento
(From Email of Henrik)
Bạn tôi - Henrik :"Nhiếp Ảnh Gia Amateur"

*


Gold Rush Days. Sacramento, CA (9-4-2017) Ngày hội tìm vàng (4 tháng 9, 2017)

Tôi đi từ thành phố Loomis đến Sacramento, để đi dự ngày "Gold Rush Days" (Tức là thục hiện lại cảnh tìm vàng năm 1852). Những hình chụp gần thì rõ nét, nhưng hình ở xa thì bị khói mù bao phủ, bởi những đám cháy của vùng kế cận. Nói chung, đến tham dự ngày này rất vui, chụp được nhiều hình đẹp.

Quý vị có thể coi thêm hình, vì Google chỉ giới hạn có 25MB, nên không thể cho nhiều hình thêm được; vì vậy, muốn coi thêm xin bấm vào nơi đây:

Pictures:

Video:


Thank you Henrik ,
Happy Labor Day!

Sunday, September 3, 2017

Cao sơn lưu thủy 高山流水 - Đàn tranh

Cao sơn lưu thủy (高山流水) - Đàn tranh
 Traditional GuZheng music :



"High Mountain and Running River"



Tích Bá Nha - Tử Kỳ  (vẽ trên đĩa sứ cổ)

Tử Kỳ ( Ngồi nghe đàn trên núi )

Bá Nha ( Ngồi gảy đàn trên thuyền dưới bến sông)

Cao sơn lưu thủy (高山流水) - Bá Nha & Tử Kỳ

Cao sơn lưu thủy gắn liền với điển tích Sở Bá Nha - Chung Tử Kì. Tương truyền, hơn hai nghìn năm trước Bá Nha hay đàn bản Cao sơn lưu thủy, nhưng chỉ có một mình Chung Tử Kì biết thưởng thức. Một lần Bá Nha gảy đàn, chí tại non cao, Tử Kì liền bảo Thiện tại hồ cổ cầm, nguy nguy hồ nhược Thái Sơn (Đánh đàn hay thay, vòi vọi tựa Thái Sơn). Bá Nha chí tại vực sâu, Tử Kì nhận ngay ra rằng Đăng đăng hồ nhược lưu thủy (Cuồn cuộn như nước chảy).
Khi Tử Kì lâm bệnh chết, Bá Nha chỉ gẩy đàn thêm một lần duy nhất trước mộ người tri âm rồi đập đàn vào tảng đá, không bao giờ cầm đến cây đàn nữa.
Bản Cao sơn lưu thủy lưu truyền ngày nay chủ yếu là bản do Xuyên Phái đời Thanh gia công và phát triển, được Đường Di Minh đời nhà Thanh ghi lại trong Thiên văn các cầm phổ (năm 1876). Ông đã hết sức phát huy các thủ pháp cổn, phất,xước, chú, khiến hình tượng núi cao, nước chảy thêm rạng rỡ, nên mới có danh xưng Thất thập nhị cổn phất lưu thủy.

Bản nhạc này được phân thành 9 đoạn và một vĩ thanh, cụ thể là 4 bộ phận lớn: khởi, thừa, chuyển hợp. Phần khởi (đoạn 1 đến đoạn 3), thông qua giai điệu thâm trầm, hồn hậu, uyển chuyển và âm bội sáng rõ, đã biểu hiện được những cảnh tượng kì diệu của núi cao trùng điệp, suối chảy khe sâu một cách rõ ràng, tươi sáng.

Phần thừa (4 và 5), dàn trải không dứt, giai điệu đậm màu sắc ca hát, giống như những giọt nước chảy trong khe suối tập hợp thành dòng nước mạnh. Phần chuyển (6 và 7), nhờ vào khúc điệu có thứ tự bội âm đi xuống và âm giới của 5 thanh đi lên, âm hóa với xung động mạnh, kết hợp với các thủ pháp cổn, phất, như một dòng thác chảy ào ạt xuống, dồn vào sông biển cuộn trào sóng lớn. Phần hợp (đoạn 8 và vĩ thanh), vận dụng một phần âm điệu của phần thừa và phần chuyển tạo thành hiệu quả hô ứng, tạo nên dư âm như sóng trào trên sông biển, khiến người nghe có thể cảm nhận dư vị hết sức ngỡ ngàng, thú vị.

Thời nhà Đường, Cao sơn lưu thủy phân ra thành hai khúc, không phân đoạn. Đến thời Tống lại phân cao sơn thành 4 đoạn, lưu thủy thành 8 đoạn, thiên về lưu thủy, khiến cho người nghe có cảm giác biển lớn đang vỗ sóng bên tai, âm vang mãi không thôi.



Lưu thủy hữu tình


Lắng nghe khúc nhạc, nếu thật sự không nhập tâm và tinh tế thì chúng ta không thể thấy hết cái hay cái đẹp của nó. Khúc nhạc bắt đầu bằng những thanh âm nhẹ nhàng và chậm rãi. Tiếng đàn đưa ta đến một không gian cao, rộng và thoáng đãng và mơ màng. Ta như thấy lại hình ảnh Bá Nha năm nào đang đưa người theo điệu nhạc, đôi mắt nhắm lại và mơ về một nơi xa nào đó. Chỉ có đôi tay người nghệ sĩ lướt nhẹ trên phím đàn khi trầm khi bổng, dặt dìu, êm ái. Xung quanh là con sông chảy hiền hòa ôm vào lòng nó những dãy núi mù sương... Có lẽ đây là không gian mà ta gọi là Cao sơn.

Rồi bỗng nhiên, nhịp đàn nhanh dần, réo rắt những dịp dồn dập nhau. Tưởng chừng như cả trái tim người nghệ sĩ cũng rung lên với nhịp thở gấp gáp. Ta lại như thấy mình giữa một khung cảnh sơn thủy hữu tình, một ngọn núi xa xa, một dòng thác chảy mạnh mẽ. Dòng nước cuộn sóng tung bọt trắng xóa. Con nước chảy từ trên cao hòa mình vào dòng nước lớn. Khung cảnh ấy có thể hình dung là lưu thủy. Kết lại bản nhạc vẫn là những điệu âm réo rắt rồi nhỏ dần nhỏ dần như dòng chảy đang dần về một nơi xa lắm.

Bản nhạc không chỉ hay ở giai điệu mà còn đẹp như một bức tranh hữu tình. Đôi khi giữa dòng đời hối hả, dành ra một khoảng để lắng nghe Cao sơn lưu thủy, ta lại thấy tiếng đàn như rót vào tim những thanh âm trong trẻo nhất. Một chút gì đó hoàn toàn thanh khiết không vướng bụi trần. Đó là tinh hoa của trời đất, của tình người tri cố, của những tâm hồn cô độc tìm thấy nhau giữa cuộc đời nhiều oan trái. Để rồi mỗi sáng thức dậy sẽ lại thấy lòng mình thanh thản và nhẹ tênh. Và lại thấy như có tiếng đàn vẫn réo rắt, du dương ngay trong chính tâm hồn mình...

Suu Tam


Sự tích Bá Nha
Tương truyền một năm nọ, Bá Nha phụng chỉ vua Tấn đi sứ qua nước Sở. Trên đường trở về đến sông Hán, gặp đêm trung thu trăng thanh gió mát, ông lệnh cho quân lính dừng thuyền uống rượu thưởng nguyệt. Cao hứng mang đàn ra gảy nhưng bản đàn chưa dứt đã bị đứt dây. Nào ngờ nơi núi cao sông dài này dường như có người biết nghe đàn, lại cũng ngờ thích khách, Bá Nha truyền quân lên bờ đi tìm thì vừa hay có tiếng chàng trai nói vọng xuống, rằng mình là một tiều phu, thấy khúc đàn hay quá nên dừng chân nghe. Bá Nha có ý nghi hoặc sao một người đốn củi lại biết nghe đàn, nhưng khi chàng trai đối đáp trôi chảy, thậm chí biết ró bản đàn Bá Nha vừa gảy thì ông không còn mảy may ngờ vực nữa, bèn mời xuống thuyền đàm đạo. Trên thuyền, Bá Nha gảy khúc nhạc Cao sơn Lưu thủy, người tiều phu rung cảm sâu sắc, cao đàm khoát luận, khiến Bá Nha khâm phục hết mực.
Chàng trai trẻ đó chính là Tử Kỳ (Chung Tử Kỳ), một danh sĩ ẩn dật, đốn củi bến sông để được sớm tối phụng dưỡng mẹ cha già yếu. Được người tri âm, thấu cảm ngón đàn cũng là tấm chân tình của mình, Bá Nha có ý mời Tử Kỳ rời non cao rừng thẳm về kinh cùng mình để sớm hôm đàm đạo và vui hưởng vinh hoa phú quý. Nhưng Tử Kỳ thoái thác vì việc hiếu. Quan sự không thể chần chừ, Bá Nha đành phải xuôi thuyền về kinh, không quên hẹn Tử Kỳ tại chốn này một ngày nọ ông sẽ trở lại đón cả gia quyến Tử Kỳ về với mình.
Mùa thu năm sau Bá Nha trở lại bến sông xưa, nhưng không còn gặp Tử Kỳ được nữa. Chàng tiều phu này đã mất trong một cơn bạo bệnh. Tương truyền, trước khi chết Tử Kỳ còn trăng trối phải chôn chàng nơi bến sông Hán Dương, cạnh núi Mã Yên, để giữ lời hẹn với Bá Nha. Bá Nha tìm đến mộ Tử Kỳ, bày đồ tế lễ, sầu thảm khóc gảy một bản nhạc ai điếu. Đàn xong, ông đập đàn vào đá, thề trọn đời không đàn nữa vì biết mình từ nay vĩnh viễn không còn bạn tri âm[2].

Khúc Cao sơn Lưu thủy (高山流水), một trong 10 bản nhạc lừng danh thuộc thập đại danh khúc cổ nhạc Trung Hoa về sau, gắn liền với câu chuyện về tình bạn tri kỷ và sự tương thông sâu sắc giữa Bá Nha và Tử Kỳ. Cao sơn Lưu thủy tương truyền là bản đàn Bá Nha sinh thời hay tấu, nhưng chỉ Tử Kỳ thụ cảm được. Điển tích "cao sơn" (núi cao) và "lưu thủy" (nước chảy) này được Liệt Ngự Khấu người nước Trịnh trong "Thang vấn" sách Liệt Tử đời Xuân Thu Chiến Quốc ghi lại rằng:
Bá Nha chơi đàn tuyệt hay, Chung Tử Kỳ nghe đàn càng giỏi. Bá Nha chơi đàn, chí tại núi cao, Chung Tử Kỳ nói: "Hay thay! vời vợi tựa Thái sơn" (Thiện tại hồ cổ cầm, ngụy ngụy hồ nhược Thái sơn). Chí để nơi dòng nước chảy, Chung Tử Kỳ nói: "Hay thay! mênh mang như sông nước" (Thiện tại hồ cổ cầm, đãng đãng hồ nhược lưu thủy). Bất luận là chí tại cao sơn hay chí tại lưu thuỷ, Bá Nha trong mỗi khúc nhạc đều biểu hiện chủ đề hoặc tư tưởng của mình, nhờ đó Chung Tử Kỳ có thể lĩnh hội được ý tứ đó. Nghe nhạc vốn dĩ là cảm cái khúc ý mà người chơi gửi gắm, đạo lý này vốn dĩ đă có từ ngàn xưa vậy.
Một ngày, Bá Nha cùng Chung Tử Kỳ chơi núi Thái sơn, gặp trời mưa to, hai người dừng lại dưới một mỏm núi đá. Bá Nha trong tâm phiền muộn bèn tấu một khúc nhạc. Khúc nhạc ban đầu biểu hiện cảnh mưa rơi xuống một dòng suối trên núi, tiếp đó khúc nhạc mô phỏng âm thanh của nước lên cuồn cuộn cùng đất đá đổ nát. Mỗi khúc nhạc vừa hoàn thành, Chung Tử Kỳ đều ngay lập tức nói ngay được ý tứ mỗi bài. Bá Nha thấy thế bỏ đàn mà rằng: "Giỏi thay! Các hạ có thể nghe thấu cái chí thú trong khúc nhạc, ý của các hạ cũng là ý của ta vậy". Từ đó hai người trở thành một cặp nhân sinh tri kỷ mà đời sau vẫn ca ngợi.[1]
Lã thị Xuân Thu cũng kể lại câu chuyện Bá Nha, Tử Kỳ tương tự như Liệt Tử, nhưng khác chút về kết cục, rằng sau khi Chung Tử Kỳ chết, Bá Nha quẳng đàn, dứt dây đến tận cuối đời không chơi đàn; từ đó trên nhân thế không có ai có thể gọi là cầm giả nữa.
Sau sách Liệt Tử và Lã thị Xuân Thu, đời Tây Hán có Hàn Thi ngoại truyệnHoài Nam TửThuyết uyển; đời Đông Hán có Phong tục thông nghĩaCầm tháoÂm phổ giải đề v.v. đều viện dẫn câu chuyện này.[1]
Điển cố văn học
Tình bạn tri âm Bá Nha, Tử Kỳ còn được người đời sau nhắc lại, ngợi ca trong nhiều tác phẩm văn học (điển cố tri âmnước non, hay lưu thủy cao sơn). Trong văn học trung đại Việt Nam, tác phẩm Đoạn trường tân thanh của thi hào Nguyễn Du, tại trường đoạn khi Kim Trọng yêu cầu Thúy Kiều gảy đàn cho nghe, có những câu nhắc đến tích này:

Rằng "Nghe nổi tiếng cầm đài,
Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ.

Than rằng lưu thủy cao san
Ngày nào nghe đặng tiếng đàn tri âm

Thuy Doan sưu tầm trên Internet