Saturday, July 31, 2010

THIÊN PHÚC TRẤN BẢO



THIÊN PHÚC TRẤN BẢO
Tiền thời Tiền Lê : LÊ ĐẠI HÀNH

Lê Đại Hành (chữ Hán: 黎大行; tên húy là Lê Hoàn (黎桓), 941 1005) là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê, trị vì từ 980 đến 1005. Tronglịch sử Việt Nam, Lê Hoàn không chỉ là một vị hoàng đế có những đóng góp lớn trong chống quân Tống phương Bắc, quân Chiêmphương Nam, giữ gìn và củng cố nền độc lập dân tộc mà còn có nhiều công lao trong sự nghiệp ngoại giao, xây dựng và kiến tạo đất nước Đại Cồ Việt. Lê Hoàn cũng là người tạo tiền đề, điều kiện để thời gian sau đó Lý Công Uẩn có đủ khả năng dời đô từ Hoa Lưvề Thăng Long năm 1010, mở ra một kỷ nguyên phát triển lâu dài của văn hóa Thăng Long - Hà Nội, thủ đô hiện tại của Việt Nam. Xung quanh vị Hoàng đế này còn nhiều điều chưa được sáng tỏ như vấn đề thân thế, sự nghiệp, và thụy hiệu.

Nguồn:http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_%C4%90%E1%BA%A1i_H%C3%A0nh


THÂN THẾ:
Về quê hương Lê Hoàn, vấn đề mà Ngô Thì Sĩ đặt ra từ thế kỷ 18, được thảo luận nhiều lần dưới thời nhà Nguyễn cho đến nay các nhà sử học vẫn chưa đưa ra được kết luận nơi đâu trong ba nơi: Ninh Bình, Thanh Hoá hay Hà Nam là quê hương của ông. Năm 1981, tại hội thảo khoa học “Lê Hoàn và 1000 năm chiến thắng giặc Tống xâm lược”, nhiều vấn đề chung về thế kỷ X, về quê hương, thân thế, sự nghiệp của ông bước đầu được giải quyết. Đến năm 2005, tại hội thảo “1000 năm Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn”, trải qua một chặng đường đổi mới của sử học, nhiều vấn đề về quê hương của Lê Hoàn được đào sâu và nhìn nhận lại theo chiều hướng thoáng rộng hơn. Tựu chung có các ý kiến sau:
Trường Châu (Ninh Bình)
Việt sử lược[3] viết từ thời Trần ghi là: “Đại Hành vương húy là Hoàn, họ Lê, người Trường Châu”. Trường Châu là vùng đất kinh đô Hoa Lư, Ninh Bình.[4] PGS, TS. Trần Bá Chí trước từng viết rất công phu về quê hương, dòng dõi Lê Đại Hành cho rằng ông người Ái Châu (Thanh Hoá), thì tại hội thảo 2005 cũng khẳng định rằng quê gốc vua là Trường Yên, Hoa Lư, Ninh Bình. [5] Các nhà nghiên cứu Mai Khánh (Bảo tàng Hà Nam) và TS. Vũ Văn Quân đồng ý rằng Lê Hoàn là người Trường Châu nhưng cho rằng Trường Châu bao gồm cả Ninh Bình và Hà Nam[6].
Ái Châu (Thanh Hóa)
Đại Việt sử ký toàn thư[7], Lịch triều hiến chương loại chí [8] ghi: “Vua họ Lê, tên húy là Hoàn, người Ái Châu”. Cùng quan điểm sách “Các triều đại Việt Nam” còn cho rằng mẹ Lê Hoàn là Đặng Thị Sen chứ không gọi là Đặng Thị.[9] An Nam Chí Lược của Lê Tắc thời Trần, mục Lê nhị thế gia chép: “Lê Hoàn, người Ái Châu, có chí lược, được lòng quân sĩ”. Website chính thức của tỉnh Thanh Hóa cũng khẳng định Lê Hoàn là người quê hương mình. [10] Đại Nam nhất thống chí chép: “Miếu Lê Đại Hành hoàng đế ở xã Trung Lập, huyện Thuỵ Nguyên, chỗ này là nền nhà cũ của tiên tổ nhà vua” song mục tỉnh Hà Nội lại chép “mộ tổ Lê Đại Hành ở bên miếu xã Ninh Thái, huyện Thanh Liêm”.
Bảo Thái (Hà Nam)
Đại Việt sử ký tiền biên [11] ghi: “Xét thấy Lê Đại Hành Hoàng đế người làng Bảo Thái, huyện Thanh Liêm chứ không phải Ái Châu, sử cũ chép nhầm”. Cuốn Việt Nam sử lược,[12] Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Việt sử tiêu án đều ghi: “Lê Hoàn quê ở làng Bảo Thái, huyện Thanh Liêm” . Nhà sử học Trần Quốc Vượng cho rằng Lê Hoàn sinh ở Thanh Liêm, Hà Nam và theo ông, Thanh Hóa chỉ có thể là quê ngoại hay quê bố nuôi Lê Hoàn.[13]. Lịch sử Hà Nam Ninh cũng đã nhận định: “Lê Hoàn quê nội ở Thanh Liêm (Hà Nam), quê ngoại ở Kẻ Sập (Thanh Hoá), Tuy sinh ở đất Ái Châu nhưng ông chỉ sống ở đấy hơn 10 năm, sau trở về Thanh Liêm”. [14] GS. Lê Văn Lan cũng cho rằng Lê Hoàn “là đứa trẻ mồ côi ở làng Kẻ Sập - quê ngoại, chàng trai nghèo ở miền Bảo Thái quê nội”[15]. Ứng Hoè Nguyễn Văn Tố, sau khi điểm lại một số nhận định của các cuốn sử cũ đã nêu quan điểm: Thanh Liêm là nguyên quán của cha mẹ. Ái Châu là chỗ ở của cha nuôi, mỗi quyển chép theo một nghĩa” [16] Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, phần ghi về lăng mộ ở huyện Thanh Liêm chép: “Mộ tổ Lê Đại Hành ở bên miếu xã Ninh Thái, huyện Thanh Liêm[17]. Sử cũ cũng nhắc tới Trần Bình Trọng quê ở xã Thanh Liêm là hậu duệ của Lê Hoàn. Vị danh tướng thời Trần này được ban quốc tính vì có nhiều công trạng. Website chính thức của tỉnh Hà Nam cũng khẳng định Lê Hoàn là người quê hương mình.[18]
Ý kiến dung hòa
Thần tích Lê Hoàn tại lăng vua Lê, làng Ứng Liêm (Hà Nam)[19] giải thích có vẻ “hợp tình, hợp lý” tất cả những vấn đề khúc mắc về quê quán, xuất thân của Lê Hoàn. Thần tích cho biết ông sinh ra ở xã Trường Yên, Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. ông nội là Lê Lộc và bà nội là Cao Thị Phương; cha là Lê Hiền, mẹ là Đặng Thị Khiết. Nhà nghèo nên đã về xã Ninh Thái, Thanh Liêm, Hà Nam làm nghề chài lưới, đơm đó bắt cá. Ngày mùng 10 tháng Giêng năm Nhâm Tuất (942) sinh ra ông. Năm lên 7 tuổi, ông mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải làm con nuôi quan án châu Ái (Thanh Hoá). Các nhà sử học cho rằng vấn đề quê hương Lê Hoàn còn phải tiếp tục nghiên cứu. Điều dễ nhận thấy là cả Ninh Bình, Thanh Hóa và Hà Nam đều gắn bó mật thiết với cuộc đời và sự nghiệp của vị vua này.

Friday, July 30, 2010

William-Adolphe Bouguereau



William-Adolphe Bouguereau
(30 tháng 11, 1825 – 19 tháng 8, 1905)
Là một họa sĩ Kinh viện Pháp. William Bouguereau (Phát âm như vill-yam boo-guh-roe)
Là một họa sĩ truyền thống có nhiều bức họa về chủ đề hiện thực và chủ đề Thần thoại Hy-La như tuyên ngôn của Trường Phái Tân Cổ điển: "Trở về với cổ đại và vẽ tranh lịch sử". Đó là những chủ đề cực kỳ mang tính Kinh viện tập trung mô tả cao độ về vẻ đẹp của cơ thể nữ giới. Ông nhận được rất nhiều sự ưu ái từ những nhà bảo trợ tranh giàu có với những bức họa như ảnh chụp của mình. Tuy rất nổi tiếng vào thời của mình nhưng đến nay, những chủ đề ông vẽ và kỹ thuật của ông nhận được khá ít sự quan tâm khi đem so sánh với Chủ nghĩa ấn tượng

Cuộc đời và sự nghiệp

Một nhà phê bình đã nhận định, “M. Bouguereau có một thiên tài và kiến thức bẩm sinh về đường nét. Sự cân đối của cơ thể người chiếm trọn tâm trí ông [...] Người ta chỉ có thể ngưỡng mộ ông vì đã cố gắng bước theo dấu chân của những người đi trước. [...] Raphael cũng đã bị ảnh hưởng bởi nét cổ điển. Không ai có quyền phê phán ông là không độc đáo cả.”[4]

Raphael là họa sĩ mà Bouguereau rất thích. Ông tiếp nhận lời phê bình này như một lời khen ngợi mình. Ông đã đáp ứng một trong những yêu cầu của học bổng Prix de Rome bằng cách hoàn thành một bức tranh chép từ bức họa của Raphael "Chiến thắng của Galatea". Trong nhiều tác phẩm của mình, ông theo đuổi cùng một cách tiếp cận Cổ điển về cách bài trí, hình dáng và chủ đề. [5]

Những bức chân dung phụ nữ của Bouguereau đều rất đẹp và quyến rũ, một phần bởi ông có thể tô điểm thêm cho vẻ đẹp của người mẫu và cũng giữ lại những nét vốn có của người đó.

Năm 1856, ông cưới Marie-Nelly Monchablon và có năm đứa con. Đến cuối thập niên 1850, ông tạo ra nhiều mối giao hảo với những nhà buôn tranh, đặc biệt là với Paul Durand-Ruel (về sau bảo hộ tranh cho những họa sĩ Ấn tượng), người giúp khách hàng mua tranh của họa sĩ trưng bày ở Triển Lãm Paris .[6] Triển Lãm hàng năm đều thu hút 300.000 người, do đó giúp nhiều họa sĩ trưng bày tranh ở đây bán được tranh.[7] Danh tiếng Bouguereau lan sang tận Anh vào thập kỉ 1860, sau đó ông mua một căn hộ lớn và một xưởng vẽ ở Montparnasse bằng thu nhập của mình.[8]

Bouguereau là một họa sĩ truyền thống trung thành với những bức tranh hiện thực và thần thoại. Tranh của ông là những cách thức thể hiện hiện đại của chủ nghĩa Cổ điển - cả về vấn đề đa thần lẫn Kitô giáo - tập trung vào cơ thể người phụ nữ. Tuy tạo ra một thế giới lý tưởng, những bức họa như ảnh chụp của ông đã thổi sức sống vào những nữ thần, những thần nymph, những cô gái chăn cừu, Đức mẹ theo một cách mà những mà bảo trợ nghệ thuật thời đó đòi hỏi. Thế nhưng, một số nhà phê bình lại tỏ vẻ thích sự chân thực của những bức tranh miêu tả nông dân và người lao động cần cù giống với đời thực của Jean-François Millet hơn.

Bouguereau sử dụng những phương thức vẽ truyền thống. Ông dùng bút chì vẽ chi tiết, sau đó phác bằng dầu. Cách ông vẽ tạo ra một hình mẫu người chính xác và hài hòa. Trong tranh ông, làn da, bàn tay và bàn chân được chú trọng đặc biệt.[9] Ông cũng dùng nhiều biểu tượng tôn giáo và biểu tượng gợi tình, như trong bức "Chiếc bình vỡ" (The broken pitcher) thể hiện một nỗi buồn về sự ngây thơ bị mất đi.[10]

Một trong những thành quả của việc duy trì phong cách Kinh viện và triển lãm tranh ở Triển Lãm Paris là ông được đặt trang trí nhà riêng, các công trình công cộng và nhà thờ. Tùy theo từng lời đặt hàng mà đôi khi ông được vẽ theo phong cách của riêng ông, đôi khi ông lại phải vẽ theo cách vẽ của tập thể. Trước đây, Bouguereau được đặt hàng trong cả ba lĩnh vực trên. Điều này làm uy tín và danh tiếng của ông lên rất cao. Ông cũng tạo nhiều bản sao của các bức tranh công khai của mình để bán cho các nhà buôn tranh, bức "Lời truyền tin" (The Annuciation) là một ví dụ.[11] Ông cũng là một họa sĩ chân dung rất thành công tuy nhiều bức vẽ chân dung của những nhà bảo trợ vẫn nằm trong bộ sưu tập riêng của ông.[12]

Bouguereau mau chóng nhận được vinh quang từ Viện hàn lâm, trở thành Thành viên Trọn đời vào năm 1876, nhân huân chương Bắc đẩu Bội tinh năm 1885. [13] Ông bắt đầu dạy vẽ tại Học viện Julian năm 1875, một học viện độc lập của École dé Beaux-Arts cho cho cả nam và nữ, không cần thi đầu vào và học phí chỉ cần trả rất ít trên danh nghĩa.[14]

Năm 1877, cả vợ và đứa con trai nhỏ của ông đều qua đời. Dù đã khá lớn tuổi, Bouguereau đi bước nữa vào năm 1896, với Elizabeth Jane Gardner Bouguereau, một họa sĩ học tròngười Mỹ.[15] Ông đã dùng ảnh hưởng của mình để mở nhiều lớp dạy mỹ thuật Pháp cho phụ nữ.

Gần cuối đời, ông miêu tả tình yêu nghệ thuật của mình như sau, "Mỗi ngày tôi đến xưởng vẽ của mình với tất cả niềm vui; vào buổi tối khi bắt buộc vào ngừng vẽ vì bóng tối tôi đều mong ngày hôm sau sẽ đến... Nếu tôi không đến với những bức tranh yêu quý của tôi, tôi cảm thấy thật bất hạnh". [16] Ông đã vẻ tổng cộng 826 bức tranh.

Mùa xuân năm 1905, nhà của Bouguereau và xưởng vẽ của ông ở Paris bị trộm. Ngày 19 tháng 8 năm 1905, Bouguereau qua đời tại La Rochelle ở tuổi 79 vì bệnh tim.

Thăng trầm

Ở thời của mình, Bouguereau được xem là một trong số những họa sĩ vĩ đại nhất của thế giới nghệ thuật Kinh viện, đồng thời ông cũng nhận được nhiều lời chê bai từ phía những nghệ sĩ cấp tiến (avant-garde). Danh tiếng của ông lan đến Bỉ, Hà Lan, Tây Ban Nha và cả Hoa Kỳ và tranh của ông rất có giá.[12]

Sự nghiệp của Bouguereau gần như thăng tiến vùn vụt mà không gặp trở ngại nào. [17] Với nhiều người, nghệ thuật của ông được cô đọng và tinh chắt, là một sự trân trọng đối với truyền thống. Với nhiều người khác, ông sử dụng một kỹ thuật vẽ xuất sắc theo truyền thống. Degas và những cộng tác của ông đã sử dụng thuật ngữ “Bouguereauté” một cách chê bai khi nói về những họa sĩ dựa dẫm vào cách vẽ tao ra "những bề mặt bóng bẩy và nhân tạo",[17] cách vẽ của những họa sĩ Kinh viện chuyên nghiệp khi hoàn thành bức vẽ khiến cho dấu vết của họa sĩ trên bức tranh không còn được nhìn thấy nữa. Trong một bức thư năm 1872, Degas viết rằng ông đã cố gắng bắt chước cách vẽ theo thứ tự của Bouguereau, tuy vậy, sự hóm hỉnh sắc xảo và với khuynh hướng thẩm mỹ của một nhà Ấn tượng chủ nghĩa, có thể thấy được đây là một lời châm biếm.[18].

Các tác phẩm của Bouguereau được những nhà triệu phú người Mỹ sốt sắng mua. Theo họ Bouguereau là họa sĩ quan trọng nhất của Pháp lúc đó.[12]Nhưng sau năm 1920, danh tiếng Bouguereau bị rơi rớt thảm hại, do sự thay đổi về thị hiếu nghệ thuật và việc ông trung thành với nghệ thuật Kinh viện, phía đầu kia chiến tuyến của chủ nghĩa Ấn tượng, trào lưu hội họa đang ngày càng được chấp nhận rộng rãi lúc đó. Ngày nay chỉ có những nhà sử học hội họa mới biết đến tên tuổi của Bouguereau.[19]

---

theo: http://vi.wikipedia.org/wiki/William_Bouguereau



Friday, July 23, 2010

HÀNH VÂN


Ông Tôn Thất Toàn (Nhạc Sư - Nhã Nhạc Cung Đình Huế)

(Hình của Đoàn THanh Thủy)



Đoàn Thanh Thủy - QN-BĐ-VN

Monday, July 19, 2010

Thursday, July 1, 2010

Lớp nhị niên 10 - Khóa 9- Sư Phạm Ghềnh Ráng Quy Nhơn







Lớp nhị niên 10 - Khóa 9- Sư Phạm Ghềnh Ráng Quy Nhơn

Những hình ảnh chụp lưu niệm trong đợt tập Văn Nghệ (11/1971) tại trường SƯ PHẠM GHỀNH RÁNG QUY NHƠN của lớp NHỊ NIÊN 10 – Khóa 9
(Hình của ĐOÀN THANH THỦY)